Bài giảng Lịch sử 10 (Cánh diều) - Thực hành Chủ đề 6: Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Lịch sử 10 (Cánh diều) - Thực hành Chủ đề 6: Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bai_giang_lich_su_10_canh_dieu_thuc_hanh_chu_de_6_mot_so_nen.pptx
VIDEO LỊCH SỬ 10A4.mp4
VIDEO TIÉT HỌC TRỰC TUYẾN 10A4 11-4- 2024.mp4
Nội dung tài liệu: Bài giảng Lịch sử 10 (Cánh diều) - Thực hành Chủ đề 6: Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)
- THỰC HÀNH CHỦ ĐỀ 6 MỘT SỐ NỀN VĂN MINH TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
- KHỞI ĐỘNG
- - Liên kết trực tuyến chùa phật tích - Hướng dẫn viên văn hoá tỉnh Bắc Ninh HỖ TRỢ NỘI DUNG - Lịch sử chùa Phật Tích - Thời gian xây dựng . - Loại hình kiến trúc ,điêu khắc - Giá trị nghệ thuật kiến trúc ,điêu khắc - Vai trò nghệ thuật ,kiến trúc - Ý nghĩa nghệ thuật ,kiến trúc
- - HỌC SINH THỰC HÀNH LÀM HƯỚNG DẪN VIÊN - GIỚI THIỆU DI TÍCH CHÙA PHẬT TÍCH NỘI DUNG ĐÃ HỌC TRỰC TUYẾN - Lịch sử chùa Phật Tích - Thời gian xây dựng . - Loại hình kiến trúc ,điêu khắc - Giá trị nghệ thuật kiến trúc ,điêu khắc - Vai trò nghệ thuật ,kiến trúc - Ý nghĩa nghệ thuật ,kiến trúc
- Lịch sử chùa Phật Tích Theo sách “Đại Việt Sử Ký toàn thư” và các dấu tích còn sót lại ở khu vực xung quanh chùa, thì Phật Tích tự (hay Vạn Phúc tự) được xây dựng và tồn tại từ thời Lý (1009 - 1225), khoảng giai đoạn thế kỷ thứ VII - X. Được khởi dựng vào thời Lý (1057), Lý Thánh Tông đã cho xây dựng một tòa tháp được trang trí bằng đá, đồng thời cũng khởi công pho tượng Phật. Chùa Phật Tích lúc bấy giờ được xây dựng để trở thành nơi thờ Phật cầu phúc cho Hoàng gia, được biết đến như một Đại danh lam của đất nước. Ngoài ra đây cũng là hành cung để Đức vua dừng chân nghỉ ngơi trong những dịp du ngoạn nơi cố hương. Ngôi chùa được xem là một trong những công trình kiến trúc Phật giáo lớn nhất lúc bấy giờ với “cây tháp quý cao ngàn trượng, tạc pho tượng mình vàng cao 6 thước”. Tính theo mét hệ thì pho tượng này cao 1,86m; thêm phần bệ thì đạt 2,69m. Đến thời Trần, chùa Phật Tích vẫn là một trong những trung tâm Phật giáo nổi tiếng trong vùng. Các vị vua dưới thời nhà Trần thường lui tới chùa thăm cảnh, lễ phật, dự hội và đề thơ. Năm Xương Phù thứ 8 (1384): Mùa xuân tháng Hai, Thượng Hoàng cho thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc. Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông (năm 1686), chùa Phật Tích được xây dựng lại với quy mô rất lớn, mang giá trị nghệ thuật cao. Người có công trong việc xây dựng này chính là Bà Chúa Trần Ngọc Am - người được mệnh danh là đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng. Do chiến tranh tàn phá, thực dân Pháp chiếm đóng, toàn bộ kiến trúc ngôi chùa bị phá hủy, chỉ còn lại nền móng và một số cổ vật như tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích, 10 linh thú, bia đá, vượt tháp. Mãi cho đến năm 1991, nhờ sự hảo tâm của khách thập phương cùng nhân dân trong vùng, chùa Phật Tích được xây dựng lại nhưng có quy mô nhỏ gồm các tòa như: Tam Bảo, Hậu đường, nhà tổ, nhà mẫu. Vào năm 2008, chùa được tu bổ, phục hồi với quy mô như ngày nay.
- Ngôi chùa cổ kính với hơn 1.000 năm tuổi là xuất phát điểm của rất nhiều câu chuyện cổ tích, huyền thoại về mối lương duyên giữa nàng tiên Giáng Hương cùng vị viên quan Tri huyện Từ Thức, hay truyền thuyết về Vương Chất mải mê xem 2 tiên ông đến mà mà mục cả cán rìu, Với những giá trị lịch sử - văn hóa to lớn, theo cùng thời đại và thăm tháng, năm 1962, bộ Văn hóa đã ban hành Quyết định công nhận Chùa Phật Tích là Di tích Lịch sử- Văn hóa. Là một trong 4 ngôi chùa, đình đầu tiên ở Bắc Ninh được xếp hạng.
- Loại hình kiến trúc Chùa được kiến trúc theo kiểu Nội công ngoại quốc (giống với lối kiến trúc tại chùa Vĩnh Nghiêm, một ngôi chùa nổi tiếng khác ở xứ Kinh Bắc), sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này nên có câu đối "Đệ nhất cung tần quy Phật địa. Thập tam đình vũ thứ tiên hương". Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644 thọ 55 tuổi; hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền. Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị Tam thế Phật, 8 gian nhà tổ và 7 gian nhà thờ thánh Mẫu. Ngôi chùa có kiến trúc của thời Lý, thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi. Các nền hình chữ nhật dài khoảng 60 m, rộng khoảng 33 m, mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật. Theo tương truyền, bậc nền thứ nhất là sân chùa với vườn hoa mẫu đơn, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên: " Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên " Do tích này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để nhân dân xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ. Bậc nền thứ hai là nơi có các kiến trúc cổ ngày nay không còn được thấy. Khi đào xuống nền ngôi chùa này, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều di vật điêu khắc thời nhà Lý và nền móng của một ngôi tháp gạch hình vuông, mỗi cạnh dài 8,5 m. Nền thứ ba cao nhất, có Long Trì (Ao Rồng) là một cái ao hình chữ nhật, đã cạn nước.
- Nghệ thuật điêu khắc Nhiều tác phẩm điêu khắc thời nhà Lý còn được giữ tại chùa cho đến nay. Ngay ở bậc thềm thứ hai, có 10 tượng thú bằng đá cao 10 m, gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi loại hai con, nằm trên bệ hoa sen tạc liền bằng những khối đá lớn. Quan trọng nhất là pho tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh đang ngồi thiền định trên tòa sen,bức tượng cao 1,86 m; thêm phần bệ thì đạt 2,69 m.[3]. Trên bệ và trong những cánh sen, có những hình rồng và hoa lá, một nét đặc trưng của mỹ thuật thời Lý. Ở chùa còn có những di vật thời Lý khác như đá ốp tường, đấu kê trên đó chạm khắc các hình Kim Cương, Hộ pháp, thần điểu, các nhạc công, vũ nữ v.v
- Giá trị lịch sử -văn hóa của chùa Phật Tích (Bắc Ninh) Như trên đã trình bày, chùa Phật Tích được xây dựng ở một vị trí rất đẹp ở sườn phía Nam của núi Lạn Kha. Để có mặt bằng dựng chùa, người thời Lý đã san bạt núi thành bốn bậc cấp cao dần từ chân núi lên trên. Dấu vết các tầng nền này còn rất rõ: – Tầng nền thứ nhất, nằm ngang với mặt bằng của đường làng (và cũng là đường lên chùa) hiện nay. Vết tích của tầng nền này chỉ còn sót lại một số tảng đá kè bó nền. Trên tầng nền này có hai chiếc ao hình chữ nhật. – Tầng nền thứ hai, dài 58m, cao 3,70m. Chính giữa tầng nền có một con đường đá rộng 5m với 80 bậc cấp. Toàn bộ tường nền được kè bó bằng các khối đá lớn hình khối chữ nhật được gia công khá nhẵn chồng xếp lên nhau. Trên tầng nền này hiện nay không còn vết tích kiến trúc gì. Theo nhân dân kể lại thì trước đây, tầng nền này có trồng hoa mẫu đơn để hàng năm mở hội hoa xuân. Tuy nhiên, có thể đoán ở đây là nơi có dấu tích chùa Phật Tích thời Lý vì có một đôi chỗ do đào xới ngẫu nhiên, khảo cổ học đã thấy dấu vết của các móng
- – Tầng nền thứ ba, dài 58m, rộng 62m, cao 5m. Vật liệu xây dựng tầng nền này tương tự như các tầng trên: toàn bộ được kè bó bằng các khối đá lớn hình khối hộp chữ nhật. Chính giữa tầng nền có mở một đường đi có kè đá để lên chùa. Hai bên con đường đi này có hai dãy tượng thú đá (xem phần điêu khắc ở phần tiếp theo). Trên tầng nền này, các vết tích vật chất còn lại cho thấy đây là vị trí xây dựng các kiến trúc quan trọng của chùa trong suốt ngàn năm qua như: + Các vết tích kiến trúc thời Lý. + Vết tích chùa Phật Tích được trùng tu vào thế kỷ 17. + Ngôi chùa nhỏ mới xây gần đây. Các tài liệu của kỹ sư Pháp L.Bezacier cho biết: năm 1937 – 1940, nhân dịp trùng tu toà Thượng điện, ông đã khai quật phần nền tháp và tìm thấy một số bức chạm đá, đất nung và những viên gạch xây có niên đại 1057. Năm 2008 – 2009, việc đào móng phục hồi chùa Phật Tích đã làm xuất lộ lại móng tháp này và được khảo cổ học nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Móng tháp dày 1,87m, từ độ sâu 9,60m đến 11,47m được gia cố bằng sỏi và đất sét với kỹ thuật đầm nện rất chắc chắn tương tự như cách gia cố móng trụ sỏi ở Hoàng thành Thăng Long. Trên phần móng sỏi là lớp móng gạch và đế hình vuông (9,24m x 9,18m), dày 2,50m, các góc móng được xây xếp uốn cong lên theo kiểu ao đình. Nếu chỉ so các móng gạch xây tháp thì móng tháp Phật Tích cũng là một kỷ lục về độ kiên cố.
- – Tầng nền thứ tư: dài khoảng 60m, cao 3,50m. Tường bao của tầng nền này cũng tương tự như các tầng nền dưới. Lối lên tầng nền được mở về hai bên cạnh rộng 1,65m với 10 bậc cấp lát đá. Từ thế kỷ 17, tầng nền này là nơi xây các tháp mộ của các sư tăng của chùa. Vết tích nghệ thuật Lý duy nhất còn lại là một ao rồng hình chữ nhật (Long Trì) cách mép nền 14,30m, sâu 2m, dài 7m, rộng 5m. Ao cũng được kè bó bằng đá tảng, có 13 bậc cấp đi xuống rộng 2m được lát bằng đá xanh. Toàn bộ lòng giếng được lát đá và chạm nổi hình một con rồng cuộn mang phong cách thời Lý. Giếng Rồng thời Lý cũng là một tác phẩm duy nhất hiện thấy ở nước ta.
- 2. Chùa Phật Tích là nơi lưu giữ nhiều tác phẩm nghệ thuật điêu khắc độc đáo nhất thời Lý Bức chạm Hộ Pháp (Lokàpàlà) duy nhất ở Việt Nam thời Lý Chân tảng đá hoa sen chạm dàn nhạc (Ghandharvà) duy nhất ở Việt Nam Hàng tượng linh thú duy nhất trong nghệ thuật trang trí chùa tháp ở Việt Nam Pho tượng đá lớn nhất, đẹp nhất và có niên đại sớm nhất thời Lý.
- Ý nghĩa nghệ thuật ,kiến trúc chùa Phật Tích Qua sử liệu cũng như các chứng tích vật thể văn hóa còn tồn tại cho đến hôm nay, chúng ta đã có thể khẳng định chùa Phật Tích xưa kia từng là một đại danh lam thắng cảnh, vừa thơ mộng linh thiêng, vừa trữ tình hài hòa. Núi Phật Tích như hạt châu ngời sáng với bao huyền tích kỳ thú cùng với những dấu vết, chứng nhân lịch sử rất đỗi tự hào. Phật Tích tự chính là đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc bản địa đã biết kết hợp kết hài hòa với các loại hình văn hóa ngoại sinh, để lại nhiều dấu ấn văn hóa đậm nét về không gian văn hóa xứ Bắc. Dưới thời Lý, Trần, chùa Phật Tích chính là trung tâm tín ngưỡng và văn hóa lớn bậc nhất của thời đại, là nơi du nhập các luồng tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng ở các vùng, các nước trong khu vực. Những tư tưởng, tín ngưỡng này hòa cùng văn hóa bản địa, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ xưa. Cố GS Trần Quốc Vượng - người nhiều năm dày công nghiên cứu về văn hóa xứ Bắc đã từng khẳng định: “về pho tượng Phật bằng đá và những điêu khắc đá tuyệt vời ở chùa Phật Tích: Đấy là nghệ thuật Việt, cái đẹp Đại Việt đã biết hội nhập nhiều yếu tố ngoại sinh Hán, Đường, Chămpa ”
- Lễ hội chùa Phật Tích Hàng năm vào ngày 4 tết Nguyên Đán, nhân dân Phật Tích thường mở hội truyền thống để tưởng nhớ công lao các vị tiền bối đã khai sinh và tu tạo chùa. Trong những ngày xuân tưng bừng ấy, khách thập phương về đây lễ Phật, hái hoa mẫu đơn, thưởng ngoạn cảnh đẹp vùng Kinh Bắc hoặc tham dự các trò chơi ngày hội như đấu vật, chơi cờ, đánh đu, hát quan họ

